Giảng Sư

Hòa Thượng Thích Tâm Thanh

Giới Thiệu

Cố Hòa thượng pháp danh thượng Tâm hạ Thanh, tự Giải Tịnh, hiệu Chơn Nghiêm.

Tiểu Sử

Thế danh Lê Thanh Hải, sinh năm Tân Mùi (1932) tại xứ Mã Châu, xã Duy An, huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam. Thân phụ là cụ ông Bồ-tát giới, húy Dương Cần, tự Lê Nghiêm, hiệu Viên Minh, pháp danh Thị Tịnh. Thân mẫu là cụ bà Trần Thị Qua.

I - Thân Thế:

Hòa thượng pháp danh thượng Tâm hạ Thanh, tự Giải Tịnh, hiệu Chơn Nghiêm, thế danh Lê Thanh Hải, sinh năm Tân Mùi (1932) tại xứ Mã Châu, xã Duy An, huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam. Thân phụ là cụ ông Bồ-tát giới, húy Dương Cần, tự Lê Nghiêm, hiệu Viên Minh, pháp danh Thị Tịnh. Thân mẫu là cụ bà Trần Thị Qua.

Xuất thân trong một gia đình gia giáo, có thân phụ là Chánh Tổng nên Hòa thượngđã sớm hấp thụ Nho học và Tây học từ thuở ấu niên. Vì thế, Hòa thượng đã thông thạo cả Hán văn lẫn Pháp văn, kết hợp và dung hòa được cả hai truyền thống văn hóa Đông - Tây. Hòa thượng đã lớn lên với rất nhiều hoài bão cùng tài năng bẩm sinh. Ở tuổi vị thành niên, Hòa thượng đã trở thành một họa sĩ nổi tiếng. Bằng trái tim nhiệt huyết của tuổi trẻ, Hòa thượng đã tham gia các phong trào đấu tranh giành độc lập tự do
cho quê hương đất nước. Nhờ nghiên cứu Phật học từ rất sớm nên Hòa thượng đã chọn tổ chức Gia đình Phật tử để tham gia sinh hoạt và đấu tranh cho chính nghĩa chống chế độ độc tài kỳ thị tôn giáo Ngô Đình Diệm. Hòa thượng đã đến xin quy y thọ 5 giới với Hòa thượng Phổ Thiên, húy thượng Trừng hạ Kệ, tự Như Nhu, hiệu Tôn Thắng và được Hòa thượng ban cho pháp danh là Tâm Thanh.
Là một thành viên nòng cốt của tổ chức Gia đình Phật tử Quảng Nam, Hòa thượng đã đã cống hiến hết mình cho tổ chức và trong mùa pháp nạn 1963, Hòa thượng đã đồng cam cộng khổ cùng chư tôn đức cũng như Gia đình Phật tử QuảngNam đấu tranh đòi bình đẳng tôn giáo. Trong mùa pháp nạn này, Hòa thượng bị chính quyền Ngô Đình Diệm đánh đập dã man và vào tù ra khám không biết bao nhiêu lần cũng chỉ vì bảo vệ Đạo pháp và sự tự do bình đẳng của Dân tộc.

II - Xuất Gia Học Đạo:

Chính sự hăng say công tác và nhận thức đúng đắn đã thúc đẩy Hòa thượng xuất gia tu học. Năm 1963, Hòa thượng được Hòa thượng thượng Chơn hạ Ngọc, hiệu Long Trí thế phát trước sự chứng minh của chư Tôn đức tại Quảng Nam và sự tham dự của toàn thể Ban Hướng dẫn Gia đình Phật tử Quảng Nam. Sau đó Hòa thượng Long Trí đã gửi Ngài ra học tại Phật học viện Phổ Đà, thành phố Đà Nẵng. Nhận thấy Ngài có tài năng xuất chúng, Hòa thượng Phổ Thiên cùng Hòa thượng Long Trí đã đưa Ngài vào Sài Gòn tu học.

- Năm 1964, Hòa thượng thọ giới Sa-di, được Hòa thượng Long Trí ban pháp tự là Giải Tịnh và cho theo học lớp Trung đẳng Phật học tại Phật học viện Huệ Nghiêm.

- Năm 1966, Hòa thượng thọ Tỳ-kheo giới tại Giới đàn Quảng Đức do Hòa thượng Thích Thanh Thạnh làm Đường đầu và được Hòa thượng Phổ Thiên cho hiệu là Chơn Nghiêm. Trong thời gian này Hòa thượng cũng theo học tại Đại học Vạn Hạnh.

III - Thời Kỳ Hành Đạo:

Sau khi tốt nghiệp Cao đẳng Phật học Huệ Nghiêm khóa đầu tiên, Hòa thượng đã trở thành một vị giảng sư nổi tiếng của Giảng sư đoàn Viện Hóa đạo Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống Nhất , được cố Hòa thượng Viện trưởng Viện Hóa đạo Thích Thiện Hoa mời về chùa Ấn Quang để đi giảng dạy khắp các tỉnh thành.

Đầu tiên, Ngài được Hòa thượng Thích Trí Hữu, người khai sơn Tổ đình Ấn Quang mời về quê hương Quảng Nam Đà Nẵng thuyết pháp. Những pháp âm đầy đạo vị bắt đầu vang vọng từ quê hương lan đến khắp các tỉnh thành từ Quảng Trị đến Cà Mau.

- Năm 1969, Hòa thượng về nhận chức Chánh đại diện GHPGVNTN khu Bảy Hiền, Gia Định, nơi các đồng bào Quảng Nam vào an cư lạc nghiệp. Nhờ đức độ, tài năngvà sự làm việc không mỏi mệt, Hòa thượng đã trùng tu chùa Phổ Hiền, thành lập Giađình Phật tử Đức Trung, vận động làm đường Hồ Tấn Đức (tức đường Võ Thành Trang ngày nay), xây dựng trường Bồ Đề Hạnh Đức (tức trường Võ Văn Tần ngày nay) và giữ chức Giám đốc điều hành toàn bộ trường học này. Vừa làm Chánh đại diện khu Bảy Hiền, vừa làm Giám đốc trường Bồ Đề, Hòa thượng vẫn luôn đi giảng dạy các Phật học viện Dược Sư, Từ Nghiêm.v.v... tại Sài Gòn và đi thuyết pháp ở các tỉnh.

- Năm 1972, Hòa thượng lên Đại Ninh thăm Hòa thượng thượng Thiền hạ Tâm - Giáo thọ trưởng Phật học viện Huệ Nghiêm đang nhập thất tại trú xứ Hương Nghiêm, được Hòa thương Thiền Tâm giới thiệu và nhận một quả đồi phía trên tu viện Hương Nghiêm do Phật tử Mười hiến cúng. Hòa thượng bắt đầu xây dựng một thạch thất nơi núi rừng hoang vắng này để về tịnh dưỡng sau những ngày đi thuyết pháp và làm Phật sự khắp nơi. Sau lễ Phật đản 1973, Hòa thượng đã về Đại Ninh nhập thất tu tập thiền định, một mình lặng lẽ với công án tử sinh.

- Đầu năm 1975, tình hình chính sự đất nước có nhiều biến đổi, Hòa thượng đã quyết định rời thất một thời gian về lại chùa Phổ Hiền, cùng với đồng bào Quảng Nam đồng cam cộng khổ vượt qua cơn lửa binh ly loạn. Hòa thượng tổ chức chuẩn bị lương thực, y tế và đặc biệt cố vấn tinh thần cho đồng bào Phật tử ở khu Bảy Hiền trong giai đoạn dầu sôi lửa bỏng này. Chiến tranh chấm dứt, hòa bình lập lại, Hòa thượng trở lại núi rừng Đại Ninh vui với cỏ cây, muông thú, gác ngoài tai mọi chuyện thế gian.
Tháng 10 năm 1975, Hòa thượng lại trở về vận động trùng tu chùa Phổ Hiền thành ngôi chùa khang trang tráng lệ, khánh thành vào tháng 7 năm 1976. Một tháng sau Hòa thượng lại về xây cất tạm ngôi chùa Ba Phong tại quê hương. Từ đó về sau Ngài góp phần trùng tu rất nhiều ngôi chùa tại quê hương Duy Xuyên - Quảng Nam.

- Năm 1981, Hòa thượng bắt đầu giảng kinh Pháp Hoa tại chùa Linh Phong, thành phố Đà Lạt. Đây là thời kỳ mà pháp âm của Ngài tuôn chảy như suối nguồn bất tuyệt. Năm 1982, cụ thân sinh của Hòa thượng an tịch sau 47 năm trường trai Bồ-tát giới và hơn 10 năm được Hòa thượng phụng dưỡng sớm hôm. Từ đó, Hòa thượng bớt đi giảng ở phương xa, thường xuyên ở nhà ra mộ Cụ thắp hương mỗi ngày 3 lần trước bữa ăn.

- Năm 1983, nhận thấy duyên hóa độ có nhiều thuận lợi, Hòa thượng quyết định xây chùa ngay phía trên tịnh thất Chơn Nghiêm, lấy hiệu là Vĩnh Minh Tự Viện với ý xiển dương giáo pháp Tịnh độ của ngài Vĩnh Minh Diên Thọ - Tổ thứ 6 của Tịnh độ tông, một phần lấy ý ghép tên tổ Vĩnh Gia - một vị tổ sư cận đại tại Quảng Nam và tổ Minh Hải - Tổ sư khai sơn môn phái Chúc Thánh. Ngôi chùa nhỏ nhắn nơi núi đồiĐại Ninh thơ mộng đã trở thành điểm tựa tinh thần cho dân chúng khắp các làng quê Đức Trọng - Lâm Đồng. Pháp âm Tịnh độ được vang vọng mỗi chiều cho Tăng Ni và Phật tử tại trú xứ về nghe, giới hạnh và lòng vị tha cứ mãi lan tỏa từ địa phươngđến các tỉnh thành và hải ngoại.

- Năm 1993, Hòa thượng lại vận động đại trùng tu Vĩnh Minh Tự Viện, từ đó về sau cứ mỗi năm Hòa thượng lại khánh thành một công trình nhân ngày kỵ tổ Phổ Thiên, từ Giảng đường, Khách đường, Tăng xá, Pháp bảo, các tượng đài, Bảo tháp v.v..., khiến Vĩnh Minh Tự Viện trở thành một Tòng lâm nổi tiếng với cảnh trí hài hòa u nhã. Ngài còn xây dựng Ni viện Diệu Nhân để hóa độ Ni chúng. Đồng thời, Hòa thượng cũng vận động tráng nhựa hương lộ Phú An, làm cầu treo qua sông Thiện Chí, đóng góp hạ lưới điện từ đường quốc lộ vào chùa cùng rất nhiều hoạt động từ thiện phúc lợi nhân sinh. Ngoài ra, Hòa thượng còn thỉnh Đại tạng và Tục tạng kinh về tôn trí tạiPháp bảo của chùa, tổ chức cho Tăng chúng soạn thảo mục lục Đại tạng.
Từ đó, pháp âm từ núi rừng Đại Ninh vang vọng, nên chư Tăng Ni và Phật tử khắp mọi nơi về thọ giáo quy y. Hòa thượng cũng từng ra đảm nhiệm chức vụ Phó ban Trị sự kiêm Trưởng ban Hoằng pháp Giáo hội tỉnh Lâm Đồng, Hiệu phó kiêm Giám luật trường Cơ bản Phật học Lâm Đồng khóa I và II. Đồng thời Ngài còn đi giảng dạy, truyền đạt kinh nghiệm giảng sư cho Tăng Ni khắp nơi.Đầu năm 2003, Hòa thượng cảm thấy tuổi già sức yếu, nhân ngày kỵ tổ PhổThiên, Hòa thượng tổ chức khánh thành bảo tháp xá lợi Minh Tích Ấn, công trình cuối cùng của đời Ngài. Trước sự chứng minh của Hòa thượng Thích Từ Mãn – thành viên Hội đồng Chứng minh Trung ương, Trưởng ban Trị sự Giáo hội tỉnh Lâm Đồng và chư Tôn đức trong môn phái, Hòa thượng đã phó chúc cho Đại đức Thích Nguyên Hiền kế vị trú trì Vĩnh Minh Tự Viện và phát nguyện nhập thất tĩnh tu quyết liễu sanh thoát tử. Lễ nhập thất của Hòa thượng được long trọng tổ chức vào ngày 20 tháng 4 năm Quý Mùi dưới sự chứng minh của Hòa thượng Thích Pháp Chiếu - thành viên Hội đồng Trị sự Trung ương - Phó ban Trị sự Phật giáo tỉnh Lâm Đồng.

IV - Những Ngày Cuối Cùng:

Tịnh thất Chơn Nghiêm tọa lạc sau khu Pháp bảo yên tĩnh, Hòa thượng bắt đầu hạ thủ công phu. Mỗi ngày dành thời gian tụng lại toàn bộ các kinh điển Đại thừa và Nikàya. Trong lúc trì tụng, Hòa thượng thấy có quá nhiều chi tiết đặc biệt mà hàng hậu thế khó lòng am đọc hết nếu không có thời gian yên tĩnh. Với tâm lượng vị tha, vì lợi lạc quần sanh nên Hòa thượng đã rút tỉa các ý chính trong kinh điển và ghi chú từng phẩm mục, từng trang tiết và soạn thành tác phẩm: Những Đề Mục Quan Yếu Trong Kinh Điển Đại Thừa (bao gồm kinh Đại Bảo Tích, Hoa Nghiêm, Đại Bát-nhã, Đại Bát Niết-bàn) và tác phẩm Những Phẩm Mục Thiết Cận Trong Các Kinh Nikàya (bao gồm các kinh Trường,Trung, Tạp, Tăng Nhất A-hàm và Tương Ưng Bộ). Suốt gần một năm trời, hoàn tất hai tạng kinh Đại thừa và Nikàya, Hòa thượng lại gia hạnh công phu niệm Phật. Tiếng niệm Phật vang vọng trong tịnh thất suốt ngày đêm. Sau lễ kỵ Tổ rằm tháng 2 năm Giáp Thân, Hòa thượng thường xuyên kể lại cho đệ tử nghe về cảnh mộng thấy chư thiên thỉnh lên trời Đao Lợi thuyết pháp, hoặc gặp Bồ-tát Văn Thù, Phổ Hiền giao phó Phật sự độ sanh.

Đêm 30/02/Giáp Thân, Hòa thượng mộng thấy chư Thiên thỉnh lên tầng trời thứ 33 giảng kinh Kiến Chánh. Biết cơ duyên hóa độ của mình đã mãn nên ngày mồng 5 tháng 2 nhuận năm Giáp Thân, Hòa thượng bấm đốt tay tính ngày ra đi. Các đệ tử thân tín được vào thất hầu thăm và được Hòa thượng dạy bảo nhiều điều cặn kẽ. Sáng ngày mồng 10 tháng 2 (nhuận), Hòa thượng kể lại hình ảnh chư vị Bồ-tát và các cảnh trí trang nghiêm như hoa sen, ánh sáng phóng xuống bên đầu giường. Chiều ngày 12 tháng 2 (nhuận), khi đại chúng đang quỳ hầu xung quanh, Hòa thượng đọc kệ Bát Đại Nhân Giác và dạy bảo, sách tấn đại chúng tu học. Sau đó, Ngài bảo ra ngoài hết, chỉ gọi riêng Trụ trì và Tri sự của hai chùa Tăng Ni vào để phó chúc. Phó chúc xong Ngài nói: "Thầy rất minh mẫn, Thầy rất sáng suốt, Thầy rất chu đáo, các con như thế mà làm". Sau khi phó chúc xong mọi việc, Hòa thượng chắp hai tay niệm thật lớn câu Nam-mô A Di Đà Phật như một cách Yết-ma. Câu cao thanh niệm Phật này là bài Pháp cuối cùng của cuộc đời Ngài.

Hòa thượng đã an nhiên xả báo thân vào lúc 6 giờ 15 phút sáng ngày 13 tháng 2 nhuần năm Giáp Thân, nhằm ngày 2 tháng 4 năm 2004, thọ 74 thế tuế và trải qua 40 mùa kiết hạ An cư.

Với hơn 40 năm tu học và hoằng pháp, Hòa thựơng đã cống hiến hết mình cho sự nghiệp hoằng dương chánh pháp. Hòa thượng đã đảm nhận nhiều chức vụ Giáo Thọ, Yết-ma trong các giới đàn để truyền trao giới pháp cho Tăng Ni Phật tử tu học. Các băng giảng Pháp Hoa, Duy Thức v.v... của Ngài là một kho báu cho những ai khát khao tìm cầu sự giải thoát. Hòa thượng không chủ trương viết sách, nhưng với những kinh nghiệm tu học, hoằng pháp cũng như khảo cứu của mình, Hòa thượng đã để lại những tác phẩm như : Danh Từ Phật Học, Nghệ Thuật Diễn Giảng, Những Đề Mục Quan Yếu Trong Kinh Điển Đại Thừa, Những Phẩm Mục Thiết Cận Trong Các Kinh Nikàya và nhiều bài viết trong các tập san Phật giáo cùng nhiều tài liệu giảng dạy khác.

Xuất thân từ tổ chức Gia đình Phật tử, nhận thấy tổ chức này là một tổ chức giáo dục thanh thiếu niên rất lợi lạc cho đạo đức và văn hóa Phật giáo cũng như Dân tộc, nên Hòa thượng luôn quan tâm và gắn bó với Gia đình Phật tử. Như một tấm gương sáng về giới hạnh và đức độ, như một bóng cây đại thọ ấp ủ, chở che, Hòa thượng đãđược suy tôn là Cố vấn Giáo hạnh Trung ương Gia đình Phật tử Việt Nam trong nhiều thập niên và cho đến ngày viên tịch.

Chốn Huyễn Hóa Tám Vạn Khói Sương, Ly Hợp Sắc Danh, Chiếc Áo Nâu Sồng, Cửa Không Hương Điểm Hạnh.
Cõi Mộng Trần Ba Nghìn Bóng Bọt, Tụ Tan Thân Thế, Một Đài Sen Trắng, Xứ Tịnh Nguyệt Cài Thơ.

Tuy ngôn ngữ trầm phù của thế gian không chuyển tải hết được công hạnh của Ngài, nhưng chúng con cung kính ghi lại vài dòng lược sử của Hòa thượng như một nén nhang đảnh lễ thâm ân của một bậc lương đống trong ngôi nhà Phật pháp. Ngưỡng nguyện Giác linh Hòa thượng cao đăng Thượng phẩm và hồi nhập Ta-bà, tiếp tục sứ mệnh cao cả thiêng liêng: Hóa độ chúng sanh đồng về bến giác.

Nam Mô Tự Lâm Tế Chánh Tông Tứ Thập Tam Thế, Khai Sơn Vĩnh Minh Tự Viện, huý thượng Tâm hạ Thanh, tự Giải Tịnh, hiệu Chơn Nghiêm, Lê Công Hòa thượng Giác linh thùy từ chứng giám.